Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Báo động "đỏ" điện giá rẻ từ Trung Quốc - chất gây nghiện cho nền kinh tế VN

BÁO ĐỘNG ĐỎ: ĐIỆN GIÁ RẺ- CHẤT " GÂY NGHIỆN " MÀ TRUNG QUỐC ĐANG " CHÍCH " CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM


 'Trung Quốc bán điện cho Việt Nam rẻ bằng nửa cho dân họ' ???



Phamvietdao.net: Đây là một thông tin cực kỳ đáng quan tâm ? Tại sao Trung Quốc lại bán điện cho Việt Nam với giá bằng 1/2 bán cho dân họ? Đây là chính sách biệt đãi giống như khi còn Cộng đồng khối SEV chăng; Lâu ngày chủ blog quên mất tiếng Việt tên dịch của SEV; Đây là khối kinh tế do Liên Xô đứng đầu thời còn hệ thống xã hội chủ nghĩa; Thời đó có những chính sách giá cả điều chỉnh các quan hệ thương mại trong nội bộ khối...


Còn nhớ, hồi đó, chủ blog đang công tác tại Fafilm Việt Nam nên đã vài lần đi nhập phim về: đối với phim Liên Xô bán cho Việt Nam với giá thấp nhất so với giá bán cho các nước khác trong khối xã hội chủ nghĩa...Không những thế, nếu Việt Nam bán cho Liên Xô thì được Liên Xô trả cho một cái giá gấp mấy chục lần ( lâu ngày chủ blog quên số liệu cụ thể) mà Liên Xô bán cho Việt Nam; giá phim được tính theo mét...Tóm lại nếu xuất sang Liên Xô được một phim có thể đổi mang về được mấy chục bộ...


Thế còn bây giờ tại sao Trung Quốc lại thi hành chính sách bán điện rẻ cho Việt Nam với giá phi thị trường vậy ? Đây là điều bí hiểm, tại sao những thương gia gian ngoan và tham lam như Trung Quốc tự nhiên lại xử sự không giống ai trong chuyện bán điện cho Việt Nam? Không rõ có điều khoản nào kèm theo việc bán rẻ này mà ngành điện, Bộ Công thương đã ém nhẹm chuyện này không? Tỷ như để đối giá điện rẻ, Việt Nam chấp nhận miễn thuế xuất khẩu than sang Trung Quốc như cách đâu không lâu báo chí đã nêu ? Hay chấp nhận xuất khẩu Titan, một loại quặng quý hơn vàng qua con đường tiểu ngạch chẳng hạn...Chuyện này, chủ blog với vị thế của ốc ngồi đáy giếng chỉ dám đoán mò vậy thôi...


Nhưng điều gây hại dễ nhìn thấy: với việc bán giá điện thấp hơn giá thành là một thao tác gian thương mà Trung Quốc đang tiến hành nhằm một mục tiêu thâm độc nào đó chứ không thể coi đây nhưng những chuyện buôn bán biệt đãi như khi còn khối SEV...


Hãy hình dung, khi nền công nghiệp năng lượng Việt Nam giống như những bọn phàm phu, tục tử, con cái nhà giàu chuyên ăn ngon xài sang, không chịu làm ăn, quen chơi bời nghiện với điện giá rẻ Trung Quốc rồi thì chỉ cần Trung Quốc cúp cầu giao là cả cái nền kinh tế này trở thành " con tin " nằm trong tay Trung Quốc...

Rất có thể đây là cung cách để Trung Quốc biến Bộ Công thương, Tập đoàn EVN, thành bọn siêng ăn biếng làm, phá gia chi tử để rồi đây nghiễm nhiên trở thành một thứ "ngựa thành Troa " ??? Bộ này chẳng là kẻ đầu têu trong việc lôi cái dự án bauxite, Tàu cao tốc về là gì...


 PHẢI THẤY: TRUNG QUỐC CỐ TÌNH BÁN ĐIỆN GIÁ RẺ CHO VIỆT NAM KHÔNG PHẢI LÀ MỘT SỰ ƯU TIÊN ƯU ĐÃI TỬ TẾ GÌ; RẤT CÓ THỂ ĐÂY LÀ MỘT ĐÒN THÂM ĐỘC CỦA ĐÁM BUÔN BÁN CHẤT GÂY NGHIỆN ?!



                                   Con nghiện phải không ?

Trong khi mua điện trong nước từ các nhà máy thủy điện nhỏ với giá 800-900 đồng/kWh thì giá mua điện của EVN từ Trung Quốc ở mức 1.300 đồng/kWh. Song, phía "nhà đèn" cho biết, mức giá đó vẫn chỉ bằng một nửa so giá điện Trung Quốc bán cho dân sở tại.


Trao đổi với phóng viên tại buổi tọa đàm với báo chí chiều 20/7, ông Đinh Quang Tri, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, hiện Tập đoàn vẫn mua điện từ Trung Quốc theo hợp đồng kinh tế và chỉ mua lúc thiếu điện phục vụ nhu cầu trong nước.

Hợp đồng mua điện này được ký 5 năm 1 lần với giá mua được tính từ thời điểm ban đầu song hoàn toàn phụ thuộc phía Trung Quốc.

Ông Tri khẳng định, giá điện mua từ Trung Quốc rẻ hơn so với điện tự sản xuất ở trong nước khi chạy dầu FO và chạy khí Cà Mau. Trong khi đó, tại Trung Quốc,  năm 2009, 2010 và 2011, nước này đều bị thiếu điện ở khu vực Vân Nam và không muốn bán cho Việt Nam, ép EVN hạ yêu cầu.

Tuy nhiên, sau khi đàm phán giữa lãnh đạo Bộ Công Thương, EVN và phía Trung Quốc thì đối tác vẫn đồng ý chấp thuận đáp ứng nhu cầu về mua điện của Việt Nam trong khi tại thời điểm năm 2009, 2010, bản thân Trung Quốc vẫn cắt điện luân phiên.

Điều bất ngờ cho báo giới tham dự buổi Tọa đàm chiều nay đó là ông Tri cho biết, "giá điện họ bán cho Việt Nam còn rẻ hơn bán cho dân của họ". Cụ thể, nếu mức giá mà nước này bán cho người tiêu dùng trong nước là 10 cents thì giá bán cho EVN trong thời gian đầu chỉ khoảng 4,5 cents, tức bằng 1 nửa.

Trong phiên trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội hồi tháng 6, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng từng cho biết, nếu năm ngoái, Việt Nam ký hợp đồng mua điện của Trung Quốc với giá 5,8 cents/kWh thì năm nay giá điện nhập khẩu từ nước này đã tăng lên 6,08 cents/kWh, tương đương khoảng 1.300 đồng/kWh.

Trong khi đó, giá mua điện từ các nhà máy thủy điện nhỏ trong nước chỉ ở mức 800-900 đồng/kWh, giá mua điện từ các nhà máy nhiệt điện than khoảng 1.280 - 1.300 đồng/kWh và giá mua từ điện chạy dầu đắt hơn, từ 5.500 - 6.000 đồng/kWh.

Như vậy, mức giá mà EVN bỏ ra để mua điện từ Trung Quốc đang cao hơn giá mua điện từ các nhà máy thủy điện nhỏ trong nước từ 400 - 500 đồng/kWh.

Vấn đề này cũng đã được đưa ra tại Hội thảo "Phát triển thủy điện nhỏ và kiến nghị từ doanh nghiệp" được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức mới đây. Trước thực trạng EVN bỏ tiền ra để mua điện Trung Quốc với giá cao hơn so với mua trong nước, không ít vị đại biểu đã tỏ ra bức xúc.

Ông Vũ Ngọc Cừ, Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Lào Cai nói, mức chênh lệch giữa giá điện mua vào trong nước và từ Trung Quốc của EVN là quá lớn và đòi hỏi các cơ quan chức năng phải xem xét lại sự bất hợp lý này.

Trong khi đó, điều nghịch lý là, theo đại diện đến từ Tập đoàn Hưng Hải, chủ đầu tư một số nhà máy điện phản ánh, theo hợp đồng mua bán điện giữa EVN với Trung Quốc, nếu phía Việt Nam phát được điện nhưng rủi ro thừa công suất, chảy ngược về phía Trung Quốc quá 5% thì EVN không những mất lượng điện trên còn phải chịu nộp phạt.

Ông Hoàng Minh Tuấn, Chủ tịch HĐQT CTCP Nam Tiến giãi bày, từ năm 2006 tới nay, giá điện EVN bán ra đã tăng tới 57% thì mức giá mà tập đoàn này mua vào vẫn dẫm chân tại chỗ với mức trung bình 650 đồng/kWh.

Song, do EVN là người mua duy nhất trên thị trường nên các nhà máy thủy điện nhỏ không còn con đường nào khác là vẫn phải bán, mà theo ông Tuấn, "mỗi lần đàm phán không dưới 3 lần".

Việt Nam bắt đầu nhập khẩu điện Trung Quốc bắt đầu từ năm 2004 với 5 tỷ kWh điện mỗi năm. Bộ Công thương cho biết, 5 tháng đầu năm, riêng số lượng mua từ Trung Quốc là 1,16 tỷ kWh, còn báo cáo cập nhật mới đây, 6 tháng, lượng điện mua ngoài (bao gồm cả Trung Quốc) là 31,6 tỉ kWh.


(theo blog Phạm Viết Đào)

Tổng quan công nghệ và thị trường điện năng lượng mặt trời năm 2012

[slideshare id=12773200&doc=devi-solarpvmarketandtechnologyoverview2011-120502095505-phpapp02]

Hãy gọi ngay để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ lắp đặt : (04)22120804 - (08)39482586

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

Thực trạng năng lượng tái tạo ở VN và kiến nghị giải pháp phát triển bền vững

Thực trạng sản xuất điện từ NLTT của Việt Nam

Điện gió: Các dự án điện gió không nối lưới đã xây dựng ở Việt Nam gồm các tuabin gió quy mô gia đình (150-200kW), chủ yếu lắp đặt ở các khu vực ngoài lưới (các đảo).


Hệ lai ghép tuabin gió - máy phát điện điêzen (30kW) đặt tại huyện Hải Hậu, Nam Định hiện không hoạt động được do độ cao lắp đặt thấp.

Hệ lai ghép tuabin gió - pin mặt trời (2kW) đặt tại huyện Đắc Hà, Kon Tum và Trạm điện gió đảo Bạch Long Vỹ (800kW), hoạt động từ năm 2004. Đây là tuabin gió lớn nhất ở thời điểm này, nhưng phải ngừng hoạt động sau 1 năm vận hành vì sự cố.

Dự án điện gió tại Đảo Phú Quý 3x2MW đã lập xong dự án đầu tư xây dựng công trình, dự kiến đưa vào vận hành vào năm 2012.

Hiện Việt Nam có 14 dự án điện gió nối lưới đang trong giai đoạn lập báo cáo đầu tư (892,5MW) và 7 dự án đang lập Dự án đầu tư xây dựng công trình (205MW).

Ngoài ra, còn có dự án điện gió tại Bạc Liêu đã khởi công (99MW) và dự án điện gió tại Gia Lai đã lập báo cáo đầu tư (40,5MW).

Như vậy, tổng công suất của 23 dự án điện gió này là 1.237MW. Việc triển khai dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư của 23 dự án này đều gặp khó khăn do chưa thoả thuận được giá bán điện.

Duy nhất Dự án Nhà máy phong điện 1 - Bình Thuận 20x1,5MW, chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN) bỏ qua rào cản về thoả thuận giá mua bán điện, trong phân kỳ đầu tư giai đoạn 1 đã hoàn thành xây lắp và đưa 5 tuabin gió (5x1,5=7,5MW) vào vận hành hoà điện, đấu nối, cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia từ 22/8/2009.

Đến nay đã xây dựng xong 15 tổ máy, tổ máy còn lại thuộc giai đoạn 2 đưa tổng công suất của nhà máy lên 30MW. Các tổ máy này đã vận hành an toàn vượt qua được thử thách của các mùa mưa bão đã qua.

Đây có thể coi là sự kiện thành công nhất trong lịch sử phát triển điện gió của Việt Nam.

Điện mặt trời: Năng lượng mặt trời dùng để sản xuất điện ở Việt Nam chủ yếu là nguồn điện pin mặt trời được áp dụng ở khu vực nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo.

Hiện các hệ thống pin mặt trời đã có mặt ở 38 tỉnh thành và một số bộ, ngành như: Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông Vận tải, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)… Các nguồn điện pin mặt trời này đều không nối lưới, trừ hệ thống pin mặt trời 150kW tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia là có nối lưới.

Tổng công suất đặt pin mặt trời của Việt Nam đến nay khoảng 1,4MW.

Năng lượng khí sinh học và sinh khối: Dạng năng lượng này tính đến thời điểm hiện nay chủ yếu là phát triển nhiên liệu sinh học từ mía, sắn, ngô, dầu cọ, cao lương, tảo, cây jatropha, thầu dầu, biomas, biodiesel.

Năm 2009 được coi là năm ra đời ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học tại Việt Nam, các nhà máy sản xuất ethanol tại Quảng Nam, Phú Thọ, Quảng Ngãi (Dung Quất), Bình Phước, Đồng Nai đã và sẽ lần lượt đưa vào vận hành.

Nhà máy đường Tây Ninh đã dùng bã mía làm nhiên liệu đốt lò nhà máy điện theo công nghệ đồng phát, nhiều dự án tương tự đang được triển khai ở miền Nam với nhiên liệu là trấu.

Địa nhiệt: Cách đây 16 năm, Công ty Ormat (Hoa Kỳ) đã đến Việt Nam nghiên cứu phát triển nhà máy điện địa nhiệt, nhưng không triển khai được, mà lý do chính là không thoả thuận được về giá bán điện.

Gần đây Công ty Xây lắp điện Khánh Hoà và Công ty LIOA có dự kiến đầu tư dự án điện địa nhiệt tại Tu Bông (Khánh Hoà), đã tổ chức đoàn đi khảo sát các nhà máy điện địa nhiệt tại Philippin. Cho đến nay chưa có thông tin đầy đủ và chính xác về tiến độ thực thi các dự án địa nhiệt tại Việt Nam.

Kiến nghị các giải pháp để phát triển NLTT bền vững

Một là, gấp rút xác định chính xác tiềm năng NLTT ở Việt Nam, trước mắt là năng lượng gió, mặt trời, từ đó vạch ra chiến lược và sách lược khai thác có hiệu quả hai dạng năng lượng này, kể cả nối lưới và không nối lưới, kịp thời tạo nguồn bổ sung điện năng cho giai đoạn đến 2020.

Về tiềm năng năng lượng gió: Cần triển khai công tác đo gió ở những vùng tiềm năng cao (tham khảo bản đồ NEDO). Công tác đo gió phải thực hiện ở độ cao 40m trở lên trên phạm vi rộng, có quan trắc một cách khoa học và đủ chu kỳ.

Để giảm thiểu chi phí đo gió mà vẫn đạt được độ chính xác cao, cần tổ chức tốt việc hợp tác quốc tế và hợp tác các chủ đầu tư dự án điện gió trong nước.

Chú ý là Truewind Solutions đã tiến hành lập Bản đồ gió Mesomap cho khu vực Đông Nam Á để WB sử dụng Hệ thống mô phỏng thí nghiệm Mesocale nhằm phác thảo toàn cảnh về năng lượng gió trên toàn lãnh thổ Việt Nam ở các độ cao 30m, 50m theo tốc độ gió trung bình hàng năm.

Tuy nhiên, đây chỉ là tài liệu nghiên cứu ở cấp vĩ mô và cho kết quả về khả năng khai thác gió ở những độ cao này tại một số địa phương của Việt Nam mà thôi. Cần tham khảo và tổng kết kết quả đo gió của Công ty Cổ phần NLTT Việt Nam (REVN) tại Bình Thuận và của Tổng Công ty Điện lực dầu khí Việt Nam (PV Power) tại Đảo Phú Quý (Bình Thuận), các nhà đầu tư này đặt các tuabin gió ở độ cao 85m.

Về tiềm năng năng lượng mặt trời: Với kết quả quan trắc của hơn 100 trạm, bố trí ở các tỉnh, thành trên toàn quốc theo dõi thu thập dự liệu về bức xạ mặt trời. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng năng lượng mặt trời phong phú, đặc biệt là ở miền Trung và miền Nam hầu như quanh năm có nắng. Cường độ bức xạ mặt trời trung bình ngày trong năm ở miền Trung và miền Nam đạt 5kWh/m2, dao động từ 4,0~5,9 kWh/m2. Ở Miền Bắc do hàng năm vào mùa đông xuân trời có nhiều mây, mưa phùn nên độ bức xạ mặt trời trung bình ngày trong năm là 4kWh/m2, khoảng dao động lớn hơn từ 2,4 ~ 5,5kWh/m2. Số giờ nắng trung bình năm tại Việt Nam khoảng 2000-5000h với tổng năng lượng bức xạ mặt trời trung bình 150kcal/cm2 , tiềm năng lý thuyết đánh giá đạt 43,9 tỷ TOE.

Từ các dữ liệu trên cho thấy, nguồn năng lượng mặt trời ở Việt Nam có độ ổn định tương đối cao, phân bổ trên nhiều vùng sinh thái khác nhau, có thể khai thác đáp ứng một phần nhu cầu năng lượng điện tại chỗ cho miền núi, hải đảo, nông thôn, thành thị, cho hộ gia đình, sản xuất kể cả nối lưới điện quốc gia.

Hiện nay việc ứng dụng năng lượng mặt trời trên thế giới và Việt Nam còn khó khăn do giá thành thiết bị công nghệ điện mặt trời cao, song đây chính là nguồn năng lượng chiến lược, mang tính khả thi cao và thân thiện với môi trường.

Đặc biệt, hiện nhiều nước trên thế giới đã đạt được những thành quả rất đáng khích lệ về sử dụng dạng năng lượng này nên trong 10-20 năm tới sẽ là một trong những giải pháp nguồn cơ bản trong hệ thống năng lượng, góp phần tích cực vào việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Hai là: Rà soát lại, phổ biến rộng rãi, triển khai thực hiện tích cực và có hiệu quả “Chiến lược quy hoạch tổng thể các nguồn NLTT Việt Nam giai đoạn đến 2015 có xét triển vọng đến năm 2025” đã được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) ra Quyết định phê duyệt.

Ba là: Xây dựng các chính sách hỗ trợ, đặc biệt ưu tiên đầu tư tài chính, công nghệ thiết bị, nội địa hóa, hợp tác quốc tế.

Đề nghị Chính phủ ban hành Nghị định về cơ chế khuyến khích hỗ trợ phát triển NLTT với lộ trình thực hiện những nội dung của Nghị định, khẩn trương nhưng chắc chắn, xây dựng giá NLTT hợp lý tạo điều kiện thu hút đầu tư, tích cực chuẩn bị mọi công việc có liên quan để xây dựng Luật Năng lượng tái tạo trình Quốc hội thông qua.

Bốn là: Lập một tổ chức tập hợp mọi nguồn năng lực xã hội chuyên lo phát triển công nghệ NLTT để cung ứng cho mọi nhu cầu tăng trưởng năng lượng tại mọi địa điểm có suất năng lượng khá trong phạm vi toàn quốc.

Tổ chức ngay việc nghiên cứu chế tạo các thiết bị sử dụng NLTT đặc biệt là Năng lượng gió và năng lượng mặt trời với mức nội địa hóa cao phù hợp với điều kiện cụ thể về chế độ gió, chế độ nắng của Việt Nam.

Năm là: Việc đào tạo nguồn nhân lực cho các chuyên ngành NLTT là vấn đề phải được quan tâm ngay từ bây giờ vì đã muộn.

Các bộ, ngành, tập đoàn, công ty đã có các dự án NLTT, đang triển khai cần đưa ra các kế hoạch và mục tiêu đào tạo cụ thể.

Cần tổ chức các đoàn đi tham quan học tập và khảo sát thực tế tại các cơ sở, công trường, cơ quan quản lý vận hành các dự án NLTT của các nước đã có kinh nghiệm về lĩnh vực này. Các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp có Chương trình đào tạo về ngành NLTT; muốn vậy, trước mắt cần mời những giảng viên có kinh nghiệm soạn thảo ra Bộ giáo trình có tiếp thu các thành tựu khoa học đã đạt được của quốc tế và hiểu hết được tình hình cụ thể của Việt Nam về NLTT.

Phát triển điện mặt trời tại Việt Nam trong xu thế chung của thế giới

Mặc dù trong nửa đầu thế kỷ 21, nguồn hóa thạch vẫn còn chiếm vai trò chủ đạo cung cấp nhu cầu năng lượng của nhân loại nhưng chúng đang trên đường cạn kiệt và là thủ phạm chính gây ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, loài người đang nỗ lực tìm tòi và khai thác các nguồn năng lượng thay thế. Theo những số liệu dự báo, ngay từ sau năm 2050, năng lượng tái tạo (NLTT) sẽ giữ vai trò chủ đạo cung cấp năng lượng cho con người, trong đó điện mặt trời (ĐMT) sẽ vươn lên vị trí độc tôn, cung cấp tới 3/4 nhu cầu năng lượng của nhân loại vào năm 2100.

Công nghiệp điện mặt trời trên thế giới

Trong vòng khoảng 15 năm qua ĐMT phát triển rất nhanh, với tốc độ trung bình là 25%/năm. Công nghiệp điện mặt trời bao gồm quang điện mặt trời (QĐMT) và nhiệt điện mặt trời (NĐMT).


Sản lượng điện mặt trời của thế giới 1995-2008

Quang điện mặt trời tiếp tục là một trong những ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất thế giới. Thị trường QĐMT thể hiện ba xu hướng rõ ràng là: Loại hình “Tòa nhà ĐMT/ Mái nhà ĐMT” (Building integrated Photovoltaic-BIPV) ngày càng gia tăng; Công nghiệp chế tạo pin mặt trời (PMT), trong đó đáng chú ý là lượng PMT công nghệ màng mỏng (thin-film PV) chiếm phần lớn trong tổng công suất lắp đặt (dẫn đầu thế giới là Hoa Kỳ, Malaysia, Đức…); và sự ra đời hàng loạt các nhà máy QĐMT. Công suất các nhà máy QĐMT nối lưới phát triển mạnh mẽ từ mức 200 KWp đã tăng lên tới mức 3GWp.


Tình hình phát triển QĐMT trên bình diện toàn cầu trong năm 2008 đầy biến động

Bên cạnh quang điện mặt trời, nhiệt điện mặt trời cũng là ngành công nghiệp năng lượng với nhiều bước tiến và các cơ sở sản xuất mới.

Công nghiệp điện mặt trời hội tụ (concentrating solar power plant-CSP) mở ra nhiều khả năng cho phát triển cùng với các phương tiện sản xuất mới. Chảo nhiệt điện mặt trời Stirling là một kế hoạch của hai cường quốc năng lượng mới thế giới CHLB Đức và Tây Ban Nha với tham vọng độc chiếm thị trường NĐMT trong tương lai gần. Đây là bước đi thương mại quan trọng của công nghệ điện mặt trời Stirling.

Nhiệt mặt trời cũng phát triển mạnh đạt mức gấp đôi. Đun nước nóng mặt trời và năng lượng sưởi ấm tăng trưởng 15%/năm trong năm 2008, đạt khoảng 145 GWth, gấp đôi công suất năm 2004. Dẫn đầu thế giới là Trung Quốc với ¾ công suất lắp đặt toàn cầu, tiếp theo là Đức, Tây Ban Nha, Nhật… Và trong số các nước đang phát triển, Brazil, Maroc, Tunisia… cũng cho thấy tốc độ “tăng trưởng lắp đặt nóng” của các hệ đun nước nóng mặt trời.

Tiềm năng bức xạ mặt trời ở Việt Nam

Việt Nam là một trong các quốc gia có tiềm năng đáng kể về năng lượng mặt trời (NLMT). Các số liệu khảo sát về lượng bức xạ mặt trời cho thấy, các địa phương ở phía Bắc bình quân có khoảng từ 1800-2100 giờ nắng trong một năm, còn các tỉnh ở phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào) bình quân có khoảng từ 2000-2600 giờ nắng trong một năm.


Bản đồ tổng lượng bức xạ mặt trời toàn cầu trung bình/năm (KWh/m2)

Nhìn một cách khái quát lượng bức xạ mặt trời ở các tỉnh phía Bắc giảm 20% so với các tỉnh miền Trung và miền Nam, và lượng bức xạ mặt trời không phân phối đều quanh năm. Vào mùa đông, mùa xuân mưa phùn kéo dài hàng chục ngày liên tục và nguồn bức xạ mặt trời dường như không đáng kể chỉ còn khoảng 1 – 2 KWh /m2/ngày, yếu tố này là cản trở lớn cho việc ứng dụng ĐMT.

Điều này không xảy ra đối với các tỉnh phía Nam và TP Hồ Chí Minh do có mặt trời chiếu rọi quanh năm, ổn định kể cả vào mùa mưa. Có thể kết luận rằng bức xạ mặt trời là một nguồn tài nguyên to lớn cho các tỉnh miền Trung và miền Nam nói chung trong quá trình phát triển bền vững.


Đồ thị bức xạ mặt trời & số giờ năng trung bình/ ngày của đại diện 3 vùng của Việt Nam

Hiện trạng năng lực công nghiệp điện mặt trời Việt Nam

Tuy còn non trẻ song ngành công nghiệp ĐMT Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu bước đầu đáng kể. Trong đó, TP Hồ Chí Minh với nguồn "tài nguyên nắng” dồi dào, và các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cũng như chất lượng lực lượng sản xuất, là một trung tâm có tiềm năng phát triển công nghiệp NLMT nhất trong cả nước. Vì vậy, TP Hồ Chí Minh được đánh giá là một “điểm tựa”, đột phá khẩu cho ngành công nghiệp ĐMT Việt Nam với lộ trình 20 năm.

Tính đến nay, công nghiệp điện mặt trời TP Hồ Chí Minh đã tạo dựng được một số cơ sở sản xuất tiêu biểu như nhà máy sản xuất Module PMT quy mô công nghiệp đầu tiên tại Việt Nam, cơ sở hạ tầng công nghiệp sản xuất chế tạo các thiết bị điện tử ngoại vi phục vụ cho ĐMT xây dựng dựa trên sự hợp tác giữa Solar và Công ty CP Nam Thái Hà, nhà máy “Solar Materials Incorporated” có khả năng cung cấp cả hai loại Silic khối (mono and multi-crystalline) sử dụng cho công nghiệp sản xuất PMT.

Có thể kể đến một số sản phẩm tiêu biểu như modul PMT, các thiết bị ngoại vi inveter, các máy smarts, thiết bị ĐMT nối lưới công nghệ SIPV đã chiếm lĩnh một phần thị trường trong nước và bước đầu vươn ra thị trường trong khu vực và thị trường thế giới.

Theo đánh giá của các nhà khoa học, công nghiệp pin mặt trời TP HCM đã gần đi vào hoàn thiện, hiện chỉ còn thiếu hai khâu trong một quy trình công nghiệp khép kín, đó là tinh chế quặng silic từ cát và chế tạo phiến PMT từ phiến silic. Nếu hoàn thiện nốt hai khâu trên, Việt Nam sẽ trở thành một trong số ít những nước ở châu Á có nền công nghiệp chế tạo PMT khép kín.

Định hướng phát triển công nghiệp điện mặt trời Việt Nam đến năm 2025

Hướng đến việc xây dựng ngành công nghiệp ĐMT Việt Nam lên hàng đầu khu vực và cạnh tranh thế giới về công nghệ và sản lượng vào năm 2025, các nhà quản lý và các nhà khoa học đã đưa ra chiến lược phát triển kích cầu công nghiệp ĐMT Việt Nam, dự thảo đề cương Chương trình điện mặt trời siêu công suất 2010-2025. Dự thảo đã vạch ra các mục tiêu cụ thể của Chương trình là khai thác hiệu quả ĐMT đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong mọi tình huống (250 MWp = 456,25 tỷ KWh/năm), và cùng với lưới Quốc gia điện khí hóa 100% toàn bộ lãnh thổ Việt Nam vào năm 2025.

Chương trình mang tính tiên phong, đột phá, vượt qua nhiều thách thức và rào cản của cơ chế cũng như công nghệ còn hạn chế hiện tại ở Việt Nam, dựa trên tiêu chí xã hội hóa nguồn năng  lượng, hướng tới sự phát triển bền vững. Hiện nay, Chương trình đã triển khai dự thảo 4 dự án lớn là dự án 10.000 mái nhà ĐMT, dự án nhà máy ĐMT nối lưới cục bộ 2MWp-5MWp, dự án 10.000 nguồn chiếu sáng công cộng bằng công nghệ tích hợp năng lượng mới; và dự án khu trình diễn năng lượng mới của Việt Nam và thế giới. Ngoài ra còn có một số dự án khác như dự án xây dựng nhà máy sản xuất phiến PMT (Solar Cell) và bảng PMT (Solar Module), nhà máy chế tạo chảo nhiệt điện mặt trời !0KW & 25KW công nghệ Stirling, dự án xây dựng nhà máy chế tạo thiết bị phụ trợ phát triển ĐMT, dự án xe taxi điện – ĐMT, dự án 10.000 thuyền câu mực ánh sáng tiết kiệm năng lượng từ ĐMT và gió...

Năng lượng là nhu cầu sống còn của nhân loại trong tương lai. Năng lượng cho phát triển trong cho thế kỷ 21 phải là năng lượng sạch, đó là những nguồn NLTT mà tiềm năng vô tận chính là NLMT. ĐMT là đích tới của loài người trong 20 – 30 năm tới, đó cũng là một thời gian tối thiểu để xây dựng và phát triển nền công nghiệp điện mặt trời TP Hồ Chí Minh nói riêng và của Việt Nam nói chung. Việt Nam cần phải trở thành một nước có nền công nghiệp NLMT tiên tiến, cạnh tranh thế giới, dựa trên chính tiềm năng NLMT dồi dào của mình.

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

Điện năng lượng mặt trời cho gia đình, doanh nghiệp nhỏ - Đầu tư nhỏ, hiệu quả lâu dài.

Điều kiện vị trí địa lý Việt Nam rất thuận lợi và phù hợp cho sử dụng khai thác nguồn năng lượng mặt trời.  Với tỷ lệ giờ nắng cao trung bình 6-8h/ ngày, trung bình 9-12 tháng/ năm trên cả nước đặc biệt hiệu quả với khu vực miền Trung và Nam gần đường xích đạo trái đất.

I. ỨNG DỤNG ĐIỆN MẶT TRỜI:

1. Cho hộ gia đình

2. Cho các trang trại SXNN và chăn nuôi

3. Cho các trung tâm thương mại dịch vụ khách sạn, nhà hàng, sân bay

4. Cho các công ty SXKD ( nhà máy sản xuất, khu công nghiệp, chế xuất...)

5. Cho khu vực không có lưới điện quốc gia: Biển đảo, vùng núi cao...

II. LỢI ÍCH ĐẦU TƯ HỆ THỐNG TỰ SẢN XUẤT ĐIỆN BẰNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

1.Đầu tư tài sản sinh lời dài hạn, dòng tiền ổn định hàng tháng trong hơn 25 năm và không có rủi ro.

2.Chủ động nguồn điện

3. Bảo vệ môi trường

4. Hiệu quả đầu tư cao

5. Sử dụng dễ dàng và an toàn với mọi người

 


Điểm hòa vốn đầu tư sau 5 năm

 


III- GIẢI PHÁP CHO SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

Thiết kế hệ thống cho phép hoạt động ổn định tin cậy 24/7, dễ sử dụng và vận hành, không cần bảo trì, lắp đặt nhanh chóng...

1. Điện năng lượng mặt trời hòa lưới không dự trữ sơ đồ sau:

 


Giải pháp hòa lưới điện năng lượng mặt trời cho làng xã tại các tuyến biển đảo.

 


2. Điện mặt trời độc lập có dự trữ sơ đồ sau:

 


3. Điện năng lượng mặt trời hòa lưới có dự trữ sơ đồ sau:

 


IV. ƯU VIỆT VƯỢT TRỘI CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN MẶT TRỜI.

* Đảm bảo duy trì nguồn điện liên tục 24/7 hoàn toàn tự động không bao giờ bị mất điện.

* Hoàn toàn không phụ thuộc lưới điện quốc gia ngay cả trong những ngày dài mất điện liên tục.

* Hệ thống hoạt động độc lập không tiếng ồn, khói bụi, không xăng dầu cháy nổ, gọn nhẹ, bền bỉ. Vận hành dễ dàng, an toàn tuyệt đối ngay cả với người già, trẻ nhỏ…

* Đầu tư bổ xung hệ thống hàng năm  theo khả năng tài chính của bạn, khấu hao hệ thống hàng ngày với độ bền trên 25 năm.

* Giảm tiểu tối đa chi phí tiền điện phải trả hàng  tháng: ích nước lợi nhà…

Việc sử dụng điện năng lượng mặt trời như một nguồn năng lượng tại chỗ thay thế cho các dạng năng lượng truyền thống không những góp phần tiết kiệm điện cho gia đình, giảm tải nhu cầu ngày càng tăng lên về năng lượng cho quốc gia, mà còn góp phần phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Công ty TNHH TM&KT Việt Trung đại diện nhãn hàng điện mặt trời Samtrix, là doanh nghiệp tiên phong trên cả nước trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời. Với trên 06 năm kinh nghiệm, chúng tôi tự hào là đơn vị tư nhân đầu tiên đã có phòng R&D nghiên cứu chuyên sâu về điện mặt trời ứng dụng tại VN, là đại lý cho các hãng cung cấp thiết bị điện mặt trời danh tiếng trên thế giới, với đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên có kinh nghiệm, yêu nghề, có mạng lưới đại lý rộng khắp trên cả nước. Việt Trung đã khảng định là công ty hàng đầu Việt Nam về điện mặt trời ứng dụng cho gia đình, DN vừa và nhỏ, ứng dụng cho sản xuất trong nông nghiệp…

Để có được hệ thống điện mặt trời phù hợp với gia đình mình, Quý khách vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ sau để có được sự tư vấn và hỗ trợ giá tốt nhất, chúng tôi sẽ tư vấn và thiết kế hệ thống phù hợp với yêu cầu của Quý khách. Ngoài ra chúng tôi còn nhận thiết kế hệ thống cột đèn cao áp năng lượng mặt trời chiếu sáng cho giao thông, công trình, Xây dựng trạm điện mặt trời tập trung cho những nơi chưa có điện lưới như biên giới, hải đảo, các xã vùng sâu, vùng xa….

Công ty TNHH Thương Mại Và Kỹ Thuật Việt Trung
Số 16 – Ngõ 316 – Đê La Thành – Đống Đa – Hà Nội 04.22120804
Số 59- Cộng Hòa – Q.Tân Bình – Tp. Hồ Chí Minh 04.39482586
Hotline : 0983.802.686 - 0905.574.577
Email: vtechco@vnn.vn
Website : www.samtrix.vn -http://diennangluongmattroi.wordpress.com

Xe chạy dưới dàn pin mặt trời

Phương tiện tự động chạy trên đường sắt tương lai một lần nữa lại được đề xuất ở Mỹ, bằng giải pháp có tên JPod.


Tính độc đáo của hệ thống này là các khoang chở người sử dụng nguồn điện từ chính các tấm pin mặt trời bố trí như mái che dọc đường sắt.













Ảnh thiết kế mô hình Jpod



Mỗi khoang khách dự kiến giống như khoang cáp treo 4-6 chỗ ngồi, trọng lượng rỗng 226 kg, tải trọng cao nhất chở người (và hàng) 544 kg. Xe treo lơ lửng dưới cấu trúc đường sắt, trên đó là các mái che, chính là các tấm quang điện. Các “xe” nhận điện từ bộ thanh quét với ray thứ 3 cấp nguồn. Bộ mã hóa trong các bánh xe và cảm biến theo dõi, sao cho các xe luôn có khoảng cách an toàn.

 

Người sử dụng JPod biết vị trí của mình qua một giao diện với màn hình cảm ứng và hệ thống máy tính nối mạng. Từ đây khách hàng sẽ chọn lộ trình tốt nhất. Xe có động cơ đổi hướng. Khi đến các lối rẽ, theo yêu cầu của khách “tích” trên màn hình, xe tự động bám vào đường rẽ. Máy tính trung tâm sẽ “bẻ ghi” cho từng xe, theo lựa chọn. Tại các điểm đỗ, có nhà ga, khách lên xuống rất an toàn. Máy tính trung tâm sẽ điều độ “khoang xe” rỗng về các nơi thiếu.


Bề rộng mái che quang điện là 4m. Tại trạm JPod, chiều rộng của các tấm quang điện sẽ tăng lên từ 6 - 10m. Diện tích này tính đủ điện cấp cho 5.000 - 30.000 khoang.


Xe chạy động cơ là 700 W đến 6,5 kW, tùy thuộc vào nhu cầu. Tốc độ dự kiến 48 km/giờ. Hệ thống JPod hướng đến các lộ tình đến siêu thị, sân bay, quảng trường công cộng… Nó sẽ hoạt động suốt ngày đêm.